Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Những thói quen tốt giúp tăng cường trí nhớ

Chạy bộ

Chạy bộ hàng ngày rất có lợi cho sức khỏe, nó cũng có thể cải thiện trí nhớ và khả năng học tập. Chạy khoảng 30 phút mỗi ngày rất tốt cho trí nhớ. Bạn có thể vừa chạy vừa nghe những bài hát yêu thích để tạo động lực cho chính mình.

Uống trà hoa cúc

Hoa cúc chứa chất apigenin có thể tăng cường sự kết nối giữa các tế bào não và cũng cải thiện sự sản sinh các tế bào thần kinh. Do đó, trà hoa cúc có thể cải thiện khả năng ghi nhớ và học tập. Bạn có thể uống 2 cốc trà hoa cúc mỗi ngày để cải thiện trí nhớ.

thoi-quen-tot-giup-tang-cuong-tri-nho

Ngủ đủ giấc giúp bạn tăng cường trí nhớ

Ăn ớt đỏ

Ớt đỏ cũng chứa apigenin, có thể giúp tăng cường trí nhớ và chống lại bệnh Alzheimer. Những thực phẩm khác bao gồm rau mùi tây và húng tây. Bạn có thể cho thêm những thảo mộc này vào thực phẩm.

Ăn rau lá xanh

Các nhà nghiên cứu Mỹ phát hiện ra rằng ăn rau bina, cải xoăn có thể giúp duy trì tinh thần và khả năng ghi nhớ. Bằng cách tăng cường ăn rau lá xanh, bạn có thể cũng ngăn ngừa sa sút trí tuệ.

Ngủ 8 giờ/ngày

Các nhà khoa học thần kinh từ Bệnh viện Brigham và Phụ nữ cho biết giấc ngủ đêm tốt có thể cải thiện trí nhớ theo nhiều cách khác nhau. Trong nghiên cứu này, những người tham gia đã được yêu cầu ghi nhớ 20 bức ảnh kèm theo tên và 12 giờ sau họ xem lại những ảnh này. Các nhà nghiên cứu thấy rằng trong môi trường được kiểm soát, nếu những người này ngủ đủ 8 giờ mỗi đêm, họ trả lời chính xác hơn 12% về tên của bức ảnh.

BS Tuyết Mai/Univadis

(theo THS)

Nhận biết viêm tụy mạn tính

Bố tôi đã từng bị viêm tụy cấp, hiện nay sức khỏe và ăn uống bình thường. Tuy nhiên, thỉnh thoảng bố tôi có cảm giác đau ở thượng vị. Liệu bố tôi có bị viêm tụy mạn tính không? Xin bác sĩ cho biết rõ về căn bệnh này.

Nguyễn Thị Hoa (Ninh Bình)

Viêm tụy mạn tính là một bệnh lý do sự xơ hóa từ từ của nhu mô tụy, dẫn tới sự phá hủy ngày càng nặng nhu mô tụy dẫn tới hậu quả suy giảm hoặc mất chức năng tụy. Khi tụy mới tổn thương một phần thì chẩn đoán khá khó khăn nhưng khi triệu chứng lâm sàng đã rõ ràng thì việc chẩn đoán tương đối dễ dàng.

Khi mắc bệnh triệu chứng hay gặp với các tính chất đau thượng vị, lan sang phải hoặc trái, xuyên sau lưng; đau lâm râm kéo dài, có lúc thành từng cơn; đau sau ăn nhiều mỡ, uống rượu, làm việc nặng, cảm xúc; giảm đau khi nằm nghiêng co, ngồi cúi, úp lưng... Người bệnh bị tiêu chảy nhiều lần trong ngày, lỏng, phân láng mỡ. Bên cạnh đó còn có các biểu hiện toàn thân như: da khô, lông tóc thưa, dễ rụng, thiếu máu, phù nề, thường xuyên mệt mỏi, giảm trí nhớ...

Để xác định bệnh chính xác, người bệnh cần làm các xét nghiệm để chẩn đoán như: các men tụy amylaza và lipaza máu, bilirubin, phosphataza. Định lượng canxi, lipid và triglycerid huyết để phát hiện viêm tụy mạn trong cường giáp trạng và tăng lipid máu... Định lượng lactoferrin trong dịch tụy nếu tăng cao là có ý nghĩa chẩn đoán viêm tụy mạn. Có thể cần tiến hành chụp Xquang, siêu âm để đánh giá kích thước tụy tạng...

Theo thư bạn kể không được đầy đủ, để xác định chính xác bạn cần đưa bố đến cơ sở y tế để được các bác sĩ khám và tư vấn cụ thể.

BS. Nguyễn Long

Gan nhiễm mỡ, tránh ăn gì?

Tôi 46 tuổi, mặc dù tôi uống ít bia rượu nhưng vừa qua đi khám sức khỏe định kỳ, siêu âm ổ bụng bác sĩ nói tôi bị gan nhiễm mỡ. Xin hỏi nguyên nhân do đâu? Bệnh có nguy hiểm không? Nên ăn uống thế nào?

Phạm Thành Nam (thanhnam@gmail.com)

Gan nhiễm mỡ đã trở thành một căn bệnh của thời hiện đại không đơn giản chỉ xảy ra ở những người uống rượu bia mà còn do quá trình ăn uống hấp thu vào cơ thể quá nhiều chất béo, ăn quá nhiều đồ chiên dầu mỡ, đồ ăn nhanh. Cuộc sống quá bận rộn khiến cơ thể lười vận động, chế độ ăn uống thất thường, dẫn tới tình trạng béo phì, một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng gan nhiễm mỡ. Gan nhiễm mỡ không phải bệnh ác tính nhưng nếu như để lâu ngày có thể gây ra ung thư gan. Vì vậy, nếu bạn bị gan nhiễm mỡ ngay bây giờ thì hãy lên kế hoạch ăn uống thật hợp lý để cứu lấy bộ phận vô cùng quan trọng này. Cách ăn uống khi bị gan nhiễm mỡ không nhất thiết phải tránh hoàn toàn những đồ ăn mỡ, tuy nhiên nên chọn những thực phẩm không hại và tốt cho gan. Chẳng hạn, nên ăn các loại thực phẩm giàu vitamin như rau có màu xanh đậm và các loại củ quả luộc (cà rốt, su hào, su su, mướp, bí, củ cải, cà...); đặc biệt nên chọn các loại củ chứa nhiều tinh bột như ngô, khoai, sắn,... vì chúng cung cấp năng lượng và chứa số lượng lớn các axit béo không no, giúp thúc đẩy quá trình chuyển hóa của chất béo và cholesterol nhưng không ăn quá nhiều tinh bột. Ngoài ra, bạn nên ăn các bữa phụ bằng dưa chuột, cà rốt, cà chua, các loại nước ép, các loại hạt để thay đổi khẩu vị, giảm cảm giác thèm ăn, tránh béo phì mà lại tốt cho gan. Thường xuyên tập luyện các môn thể thao phù hợp với độ tuổi và sức khỏe.

BS. Trần Quang Nhật

Xử trí tiểu tiện, đại tiện không tự chủ

Đặc điểm lâm sàng

Với tuổi cao sức yếu, NCT thường bị suy giảm một số khả năng trong sinh hoạt hàng ngày là một vấn đề đương nhiên. Trong đó việc tiểu tiện, đại tiện không tự chủ do bàng quang và ruột không kiểm soát được các hoạt động này thường được ghi nhận. Bình thường, nước tiểu được thận bài tiết rồi dự trữ ở bàng quang, khi bàng quang chứa đầy nước tiểu sẽ có phản xạ qua dây thần kinh đi tới não; từ đó có luồng thần kinh chỉ huy đi trở lại bàng quang làm cho bàng quang co bóp để đẩy nước tiểu ra ngoài tạo nên trạng thái tiểu tiện. Ở NCT, hoạt động của thận và bàng quang đều bị suy giảm, khi đi tiểu tiện bàng quang không thể tống hết nước tiểu ra bên ngoài nên rất dễ gây ra tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu. Một số nguyên nhân khác cũng có thể làm ảnh hưởng đến hoạt động tiểu tiện của NCT như: sự đi lại khó khăn, đau chân, đau khớp, mắc bệnh đái tháo đường, dùng các thuốc lợi tiểu... Trường hợp đại tiện không tự chủ cũng có thể xảy ra với cơ chế tương tự như tiểu tiện không tự chủ nhưng ít gặp hơn.

Sự căng bàng quang làm xảy ra sự són tiểu khi NCT thực hiện bất kỳ một động tác nào đó tạo ra áp lực trên bàng quang

Cần lưu ý rằng chỉ xem các trường hợp tiểu tiện, đại tiện không tự chủ khi ghi nhận NCT không tự chủ, không kiểm soát được những hoạt động tiểu tiện, đại tiện này; gây ra những vấn đề có liên quan đến vệ sinh cá nhân và sinh hoạt xã hội để phân biệt với các loại bệnh lý khác.

Tiểu tiện không tự chủ

NCT thường có hoạt động tiểu tiện không tự chủ khá phổ biến, vì vậy cần biết nguyên nhân và biểu hiện, cách xử trí và luyện tập giúp đỡ, đồng thời thực hiện các phương pháp chăm sóc hỗ trợ.

Bình thường, nước tiểu được thận bài tiết rồi dự trữ ở bàng quang

Nguyên nhân và biểu hiện:

Sự căng bàng quang làm xảy ra sự són tiểu khi NCT thực hiện bất kỳ một động tác nào đó tạo ra áp lực trên bàng quang như: khi vận động, đứng lên, thậm chí cả khi hắt hơi, nhảy mũi, ho hay cười...; tình trạng này thường hay gặp ở phụ nữ cao tuổi, có thân hình béo mập và sinh nở nhiều lần. Trường hợp không nhịn được tiểu tiện khi NCT không đi kịp ra nhà vệ sinh thì đã tiểu tiện ra trong quần, lượng nước tiểu són ra không nhiều nhưng thường són ra đột ngột không có dấu hiệu báo trước. Tiểu rỉ ra nước tiểu do đường ống thoát tiểu bị tắc nghẽn, do phì đại tuyến tiền liệt ở nam giới hoặc sa tử cung ở nữ giới, hay bị táo bón, nhu động ruột kém; trong trường hợp này người cao tuổi có đủ thời gian để đi ra nhà vệ sinh nhưng do bàng quang không có khả năng đào thải hết được lượng nước tiểu ứ đọng nên thường bị tiểu rỉ ra giữa các lần đi tiểu. Tiểu rỉ ra liên tục, nước tiểu rỉ ra do các dây thần kinh điều khiển bàng quang bị tổn thương, do bệnh ở tủy sống hoặc do đột quỵ. Ngoài ra, còn có một số các nguyên nhân khác có thể gây nên tình trạng tiểu tiện không tự chủ ở NCT như do nhiễm khuẩn tiết niệu, tâm thần sa sút, tình trạng tinh thần lú lẫn, nhà vệ sinh ở xa không thuận tiện sử dụng; do dùng thuốc lợi tiểu, thuốc an thần, bị ốm đau...; nếu do ốm đau thì sau khi chữa khỏi bệnh, tình trạng tiểu tiện không tự chủ cũng sẽ hết.

Xử trí điều trị:

Việc xử trí điều trị được thực hiện tùy theo nguyên nhân gây nên. Các biện pháp đơn giản có thể tiến hành là tạo điều kiện thuận tiện cho NCT trong việc đi tiểu tiện như: đặt bô chứa nước tiểu ở cạnh giường, cho mặc quần áo dễ cởi như quần thun... Đồng thời cho ngừng hoặc giảm việc dùng thuốc an thần, lợi tiểu; nếu đang nhiễm khuẩn đường tiết niệu phải cho dùng kháng sinh. Ngoài ra, cần hướng dẫn NCT tập luyện các cơ thành bụng tham gia vào việc tiểu tiện; tạo phản xạ, thói quen trong tiểu tiện...

Các bài tập luyện:

Các bài tập luyện này chỉ áp dụng cho trường hợp tiểu tiện không tự chủ do căng bàng quang. Thực tế, do những cơ tham gia vào việc bài xuất, tống nước tiểu từ bàng quang ra ngoài yếu nên phải cố gắng luyện tập trong thời gian ít nhất từ 4 - 6 tuần mới có kết quả. Đầu tiên, hướng dẫn NCT có tiểu hiện không tự chủ ngồi trên ghế cứng, ngả người về phía trước, hai khuỷu tay chống lên đầu gối hoặc nằm ngửa, đầu gối gấp, hai bàn chân để thẳng lên mặt giường. Tiếp theo, tập co các cơ đại tiểu tiện bằng động tác giống như khi thực hiện nhịn tiểu tiện hoặc đại tiện; cố giữ như vậy và đếm 1, 2, 3, sau đó thả lỏng; tiến hành động tác này trên 10 lần; mỗi ngày thực hiện việc luyện tập ít nhất 3 lần. Khi đã quen, có thể tập bất cứ lúc nào kể cả ở tư thế ngồi hoặc tư thế đứng.

Đồng thời, tập giữ nước tiểu bằng cách hướng dẫn, khuyến khích NCT dừng tiểu khi mới tiểu được một nửa, đếm 1, 2, 3, rồi lại đi tiểu tiếp; cần phải tập nhiều lần như vậy để các cơ thắt khỏe hơn; khi đã quen có thể nhịn tiểu lâu hơn. Phải luyện tập động tác này thường xuyên mỗi khi đi tiểu, nếu bỏ lâu không tập luyện thì các cơ sẽ yếu đi. Nếu phát hiện các trường hợp có u xơ tuyến tiền liệt, sa tử cung... thì phải giải quyết bằng phẫu thuật can thiệp.

Ngoài ra, khuyên NCT tập phản xạ đi tiểu theo giờ nhất định. Cần theo dõi thời điểm NCT thường đi tiểu tiện không tự chủ để xác định giờ đi tiểu và chủ động hướng dẫn tập đi tiểu trước các giờ thường tiểu dầm ra quần khoảng 30 phút. Thực tế NCT đi tiểu tiện không tự chủ do không nhịn được, mỗi khi mót đi tiểu thường phải vào ngay nhà vệ sinh; vì vậy cần hướng dẫn cụ thể khi buồn đi tiểu nên cố gắng nhịn khoảng 5 phút rồi hãy ra nhà vệ sinh. Lúc đầu có thể xảy ra tình trạng đi tiểu són, tiểu dầm nhưng rồi bàng quang sẽ quen dần cho đến khi có thể chủ động đi tiểu được bình thường.

Cách chăm sóc cần thiết:

Khi NCT đi tiểu tiện không tự chủ và tiểu dầm không tự thay quần áo được thì phải chủ động giúp đỡ, hỗ trợ việc vệ sinh, thay quần áo; tránh làm cho họ có sự xấu hổ hoặc mặc cảm... Không để tình trạng nước tiểu thấm ướt lâu mà không được thay ngay quần áo. Phải lau, rửa sạch vùng bẹn, mông là nơi da dễ bị loét; có thể lót tấm ni lông, khăn trải ở giường và ghế ngồi của họ. Lưu ý mặc dù NCT có tiểu tiện không tự chủ, thường tiểu dầm ra quần áo nhưng không nên hạn chế việc cho uống nước; phải cho uống đủ lượng nước mỗi ngày từ 1,5 - 2 lít để tránh tình trạng mất nước vì có thể bản thân họ lo ngại nên không dám uống nhiều nước.

Mặc dù NCT có tiểu tiện không tự chủ nhưng không nên hạn chế việc cho uống nước

Đại tiện không tự chủ

Việc đại tiện không tự chủ ở NCT thường ít gặp hơn so với tiểu tiện không tự chủ. Nguyên nhân có thể do bị tiêu chảy nặng và táo bón nặng. Tiêu chảy nặng thường xảy ra trong các trường hợp nhiễm khuẩn, nhiễm độc thức ăn; do bệnh đường ruột, nghiện rượu, dùng kháng sinh, tổn thương tủy sống, đột quỵ... Táo bón nặng thường xảy ra do tình trạng phân đóng cục cứng trong ruột; vì thường xuyên phải rặn nên hình thành khá nhiều nước phân ở chung quanh cục phân và nước này có thể rỉ ra ngoài hậu môn gây nên tình trạng đại tiện không tự chủ.

Việc xử trí điều trị cũng được thực hiện theo nguyên nhân gây nên. Nếu bị tiêu chảy nặng thì phải điều trị tác nhân gây tiêu chảy. Nếu bị táo bón nặng thì phải thụt tháo lấy phân ra, cho ăn chế độ ăn thích hợp, tránh táo bón bằng cách uống nhiều nước, ăn thức ăn có nhiều chất xơ như rau, hoa quả...; thường xuyên tập luyện, vận động để tránh sự táo bón.

TTƯT.BS. NGUYỄN VÕ HINH

3 loại thực phẩm có thể gây đau khớp

Sưng đau khớp là bệnh tuy không nguy hiểm nhưng làm giảm chất lượng sống vì người bệnh luôn phải chịu những cơn đau dày vò. Người bị đau khớp cần cẩn trọng với chế độ ăn vì trong số những thực phẩm được cho là chống viêm, có loại tốt cho bệnh khớp như dầu ô liu, các loại hạt và cá béo…có một số loại thực phẩm lại gây đau. Nếu bạn ăn những thực phẩm này ngày này qua ngày khác, bạn có thể bị tăng nguy cơ bị cơn đau kịch phát.

Cà chua

Mặc dù cà chua thường được cho là chống viêm nhưng những người bị gút, một dạng viêm khớp đặc biệt, từ lâu đã nghi ngờ loại quả này thực sự gây đau khớp và nghiên cứu mới đã chứng minh điều đó.

Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu 2.051 người bị bệnh gút, 20% trong số họ cho thấy cà chua là tác nhân gây đau. Sau đó, các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu từ 12.720 người không bị khớp và thấy rằng ăn nhiều cà chua làm tăng hàm lượng axít uric trong máu những người này. Axít uric cao là nguyên nhân chính của bệnh gút. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu bạn không cần phải từ bỏ loại quả này mà chỉ cần cắt giảm và đảm bảo dùng thuốc hạ axít uric thường xuyên.

Các loại dầu ngô, hướng dương, hoa rum, đậu tương và hạt bông

Axít béo omega-3 có trong cá hồi và quả óc chó rất tốt cho bạn. Nhưng axít béo omega-6 thì không như vậy.

Vì axít béo omega-6 được tìm thấy trong dầu đậu nành và dầu đậu nành được sử dụng trong tất cả các loại thực phẩm đóng gói sẵn. Chế độ ăn bình thường của người Mỹ có thể chứa axít béo omega-6 nhiều hơn gấp 25 lần so với axít béo omega-3. Tỷ lệ chênh lệch này có thể làm hỏng khớp của bạn, nghiên cứu chỉ ra rằng bất cứ tỷ lệ nào lớn hơn 10/1 có thể gây ra các rối loạn như bệnh hen, tim mạch và viêm.

3 loại thực phẩm có thể gây đau khớp

Các nhà nghiên cứu đề nghị bất cứ ai bị viêm khớp dạng thấp nên giảm tỷ lệ này xuống 2 hoặc 3/1. Điều này giúp ức chế tình trạng viêm ở những người tham gia nghiên cứu bị bệnh này. Axít béo omega-6 có thể cũng được tìm thấy trong các thực phẩm sấy khô, bơ thực vật, lòng đỏ trứng và các loại thịt

Nước ngọt có đường

Nước ngọt có đường hay thậm chí là nước ngọt cho người ăn kiêng cũng đều không tốt. Theo American Journal of Clinical Nutrition , loại đồ uống này khiến bạn có nguy cơ bị tiểu đường, bệnh tim, tiêu thụ đường có thể là tác nhân giải phóng cytokin, những “sứ giả” gây viêm.

Khi phân tích dữ liệu từ 2 nghiên cứu lớn kéo dài 30 năm, các nhà nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa sử dụng nước ngọt và nguy cơ viêm khớp. Phụ nữ uống một lon nước ngọt hoặc nhiều hơn hàng ngày tăng 63% nguy cơ viêm khớp so với những người hoàn toàn không uống.

BS Cẩm Tú

Theo MSN

(Univadis)

Dấu hiệu cảnh báo cơ thể thiếu kali

Được cho là đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì cân bằng điện giải trong cơ thể và điều tiết hoạt động của tim, thiếu kali có thể gây ra nhiều nguy cơ sức khỏe khác nhau, bao gồm cả các rối loạn tiêu hóa. Dưới đây là 5 triệu chứng thiếu kali hàng đầu.

Co cơ

Hàm lượng kali giảm, chức năng cơ cũng giảm dẫn tới yếu cơ, co thắt và giật. Và nếu không được kiểm soát, nó có thể gây tổn hại cơ, cứng cơ và đau nhức.

Nhịp tim bất thường

Chức năng cơ tim được điều khiển bởi một hệ thống dẫn đặc biệt. Thiếu kali gây cản trở với các cơn co thắt tim khiến nhịp tim trở nên bất thường.

Rung-toc-la-dau-hieu-co-the-thieu-kali

Rụng tóc là một trong những dấu hiệu cơ thể thiếu kali

Rối loạn tiêu hóa

Táo bón và đầy hơi có thể là một dấu hiệu cơ bản của tình trạng thiếu kali. Thiếu kali làm giảm chức năng cơ đường ruột, dẫn đến các vấn đề về dạ dày.

Ngất xỉu và chóng mặt

Thiếu kali dẫn đến mất cân bằng nước và điện giải. Điều này làm cho lượng nước tiểu bài tiết quá nhiều và giảm huyết áp với các triệu chứng như ngất xỉu và chóng mặt.

Thường xuyên đi tiểu

Vì thận không duy trì được cân bằng nước và điện giải do thiếu kali, nó dẫn đến mất nước nhiều hơn, gây tiểu tiện thường xuyên và khát - các triệu chứng phổ biến của hạ kali máu.

Rụng tóc

Thiếu kali gây tích tụ dư thừa natri quanh nang tóc, gây cản trở sự hấp thu các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của tóc. Và do đó, tăng hấp thu kali có thể giúp bạn đối phó với rụng tóc và thúc đẩy tóc phát triển.

BS. Tuyết Mai/Univadis

(theo THS)

Kém hấp thu: dấu hiệu nhận biết và xử trí

Kém hấp thu là có thể xảy ra ở các bé, nhưng có hai điều quan trọng về kém hấp thu mà cha mẹ nên hiểu rõ. Những lời khuyên dưới đây của bác sĩ dinh dưỡng Anh Nguyễn (Đại học Worcester, Anh) được trích từ cuốn sách Làm mẹ không áp lực,dựa trên kết quả từ nhiều nghiên cứu y học trên thế giới, sẽ giúp phụ huynh giải đáp thắc mắc.

Thứ nhất: Nó là một dạng hoàn toàn khác với suy nghĩ của các bậc cha mẹ. Nó phức tạp và liên quan đến nhiều bệnh hơn như thiếu máu.

Thứ hai: Nếu bé bị kém hấp thu thì việc bổ sung thực phẩm chức năng thông thuờng sẽ không giải quyết được vấn đề. Vì kém hấp thu là dạng tổn thương đến quy trình hấp thu chất dinh duỡng (đa phần ở ruột) để đưa chất dinh duỡng vào máu.

Mặt khác, hiện tuợng phân sống thỉnh thoảng xuất hiện vài ngày là bình thuờng ở các bé dưới 1 tuổi. Do một số men tiêu hóa chưa được hoàn thiện nên việc ăn gì ra đó một vài dịp là không cần lo lắng.

Hiểu đúng về kém hấp thu

Trong việc kém tăng trưởng, kém hấp thu là một nguyên nhân rất hiếm khi xảy ra. Nếu có bệnh sẽ chỉ diễn ra 1 - 2 ngày và sẽ tự khỏi vì những tổn thương ở ruột là dễ phục hồi. Trừ khi tổn thương quá lớn gây ảnh huởng rộng, dẫn dến việc kéo dài tình trạng bệnh lý.

Hãy quan sát, nếu có 2 trong những triệu chứng sau và kéo dài hơn 4 ngày thì nên tìm chuyên gia dinh duỡng để chẩn đoán thêm.

• Thuờng xuyên đau bụng hoặc ói nôn.

• Phân đi nhão, có mùi tanh.

• Thuờng bị bệnh viêm, cảm, sổ mũi.

• Da khô, nứt nẻ.

• Tăng truởng chậm (có thể lên đến 4 tháng).

• Quấy khóc bất thuờng, mệt mỏi.

Cha mẹ làm gì khi bé có 2 triệu chứng trên:

Nhớ ghi lại những thức ăn bé đã ăn trong 3 ngày gần nhất và tư vấn chuyên gia dinh duỡng. Việc này càng chi tiết càng tốt vì việc theo dõi thực phẩm bé ăn sẽ giúp chẩn đoán nhiều bệnh khác, hơn là kém hấp thu.

Phương pháp chẩn đoán kém hấp thu

Thực tế, không phải lúc nào có hai trong những triệu chứng trên là mắc bệnh kém hấp thu, các chuyên gia dinh duỡng sẽ chẩn doán dựa trên các xét nghiệm sau:

Trẻ biếng ăn do kém hấp thu

• Bé lớn hơn 3 tuổi thì cho bé dùng dung dịch đuờng lactose và sau đó đo luợng hydrogen trong hơi thở của bé. Xét nghiệm này có thuật ngữ tiếng Anh là "lactose hydrogen breath test".

• Bé nhỏ hơn 3 tuổi có thể xét nghiệm phân để xem phân tử chất béo trong phân. Nếu quá nhiều có thể liên quan đến kém hấp thu.

• Xét nghiệm mồ hôi qua da, gọi là sweat test, để phát hiện cysc fibrosis, liên quan đến hoạt động của một số enzyme trong hấp thu.

• Trong một vài truờng hợp đặc biệt, chuyên gia dinh dưỡng sẽ yêu cầu sinh thiết để chẩn đoán mức dộ tổn thương (thuờng là đối với truờng hợp nặng, bé hôn mê, bé mất chức năng thần kinh, hoặc là với các bé sau đại phẫu).

Tại sao bé ăn được mà vẫn chậm tăng truởng?

Ða phần các bé không tăng cân là do những nguyên nhân sau:

1. Do bé tự điều chỉnh, cân nặng các bé không phải lúc nào cũng tăng đều đều, nó sẽ có những lúc tăng chậm hoặc giảm để phù hợp với phát triển của bé.

2. Xem lại thành phần bữa ăn có đủ các nhóm chất không. Kết hợp các loại thức ăn có gây cản hấp thu không, chọn những thực phẩm giúp tăng cường hấp thu (ví dụ như thực phẩm giàu sắt thì nên ăn cùng với thực phẩm giàu vitamin C).

3. Xem lại phân bố nuớc trái cây, sữa và nuớc một ngày của bé. Nếu uống quá nhiều sữa hoặc nuớc trái cây sẽ làm bé giảm luợng ăn các chất khác (thường gặp các bé trên 1 tuổi). Việc ăn trái cây tươi cũng nên lưu ý không quá nhiều và thuờng xuyên, đường fructose bên trong các loại trái cây thuờng sinh ra khí ga (nếu ăn nhiều và gần các bữa chính), sẽ làm bé hấp thu không tốt các chất khác.

BS. Ngân Anh

Chế độ ăn cho người bệnh gút

Gút là một bệnh dạng thấp gây đau do lượng axit uric cao trong máu. Trong khi sự mất cân bằng trong bài tiết ở thận có thể gây bệnh gút, thì...